Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

Những mẹo chống muỗi đốt hiệu quả

Muỗi là vật trung gian mang đến cho con người rất nhiều căn bệnh nguy hiểm, đặc biệt là vào mùa hè và mùa mưa như sốt rét, sốt xuất huyết,... Cách duy nhất để phòng tránh những bệnh do muỗi truyền là tránh bị muỗi đốt.
Vậy làm thế nào để bảo vệ bạn và gia đình bạn khỏi bị muỗi đốt? Dưới đây là một số gợi ý về cách chống muỗi đốt hiệu quả:

Mặc quần áo có gam màu nhẹ

Quần áo màu sẫm mà hay có màu rực rỡ khiến bạn dễ bị muỗi phát hiện hơn. Do vậy, để tránh bị muỗi đốt, bạn nên mặc những trang phục màu trắng hay có gam màu nhẹ, như kaki, be hay ô liu vì những màu nay không gây chú ý đối với côn trùng. Bạn cũng mặc áo dài tay và quần dài để tránh bị muỗi đốt.

Mùi hương đuổi muỗi

Bạn có thể sử dụng những loại dầu chống côn trùng xịt lên những phần da hở để tránh muỗi đốt. Những loại dầu này thường chứa khoảng 30 đến 50% chất DEET (N,N Diethyl metaloluamin) có tác dụng đuổi muôi trong khoảng vài giờ sau khi xịt. Ngoài ra những loại dầu từ các loại thực vật, như chanh, sả, quế, hương thảo, bạc hà,.. cũng có tác dụng đuổi muỗi rất hiệu quả.

Mắc màn khi ngủ


Cách chống muỗi đốt hiệu quả nhất trong khi ngủ là sử dụng màn chống muỗi. Lưu ý, trong khi ngủ bạn không nên nằm sát màn vì muỗi có thể đốt bạn.

Thực phẩm giàu vitamin B1

Ăn nhiều thức phẩm giàu vitamin B1, như đậu xanh, các loại hạt và khoai tây sẽ làm cho máu của bạn có vị khó chịu đối với muỗi. Tuy nhiên, bạn nên tránh những thực phẩm có nhiều muối vì nông độ muối trong cơ thể cao sẽ làm tăng axít lactic – chất gây chú đối với muỗi.

Tránh đổ mồ hôi

Loài muỗi rất nhạy cảm với mùi mồ hôi của cơ thể con người. Vì thế, bạn nên giữ cơ thể của mình sạch sẽ và không bị dính mồ hôi. Ngoài ra, bạn cũng nên tránh sử dụng các loại dầu gọi đầu, xà bông, nước hoa có mùi hương mạnh vì chúng rất dễ gây chú ý đối với lòa muỗi.

Giữ nhiệt độ cơ thể luôn mát mẻ

Nhiệt độ cơ thể cao cũng là một trong những yếu tố khiến bạn là mục tiêu dễ bị phát hiện bởi những con muỗi đáng ghét. Do vậy, bạn nên giữ nhiệt độ cơ thể của mình ở trạng thái thấp nhất có thể.

Cách phòng và điều trị bệnh viêm não Nhật Bản do Muỗi truyền

Theo thông báo của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, mỗi năm có khoảng 3.000 trẻ em mắc bệnh viêm não, trong đó có từ 30-40% bị viêm não Nhật Bản. Bệnh viêm não Nhật Bản (Japanese encephalitis) do muỗi truyền và phát triển mạnh vào mùa nắng nóng, phù hợp với điều kiện hoạt động của muỗi truyền bệnh nên thường gọi là bệnh viêm não mùa hè hay viêm não B. Viêm não Nhật Bản là bệnh do muỗi truyền virut gây bệnh, giống các bệnh nhiễm virut khác do muỗi truyền như sốt xuất huyết (Dengue fever), sốt vàng (Yellow fever)... Hiện nay bệnh viêm não Nhật Bản chưa có thuốc đặc trị do vậy thường có tỷ lệ tử vong cao hoặc để lại di chứng nặng nề.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Bệnh viêm não Nhật Bản đã mô tả từ năm 1871 nhưng mãi tới năm 1935 mới phát hiện, phân lập được từ bệnh nhân bị mắc bệnh ở Tokyo (Nhật Bản) nên bệnh được gọi là bệnh viêm não Nhật Bản. Theo thời gian, bệnh phát triển, lưu hành và gây dịch tại các đảo ở Tây Thái Bình Dương, các nước ở phía Bắc và Đông Nam châu Á... trong đó có Việt Nam. Ở Việt Nam, trong những năm 80 và đầu thập kỷ 90, tỷ lệ mắc bệnh viêm não Nhật Bản khá cao (7/100.000 dân) nhưng kể từ năm 1993 và cụ thể là từ năm 1997, khi vaccin viêm não Nhật Bản được Dự án quốc gia tiêm chủng mở rộng triển khai thực hiện cho đối tượng trẻ em từ 1-5 tuổi thì tỷ lệ mắc bệnh đã giảm đáng kể.
Viêm não Nhật Bản là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính gây ra bởi một loại virut thuộc nhóm Arbovirus có ái tính với tế bào thần kinh. Virut gây bệnh thuộc họ Togaviridae ở trong nhóm B của các Flavivirus, chúng xâm nhập cơ thể con người qua vết đốt của muỗi truyền bệnh để gây bệnh. Trung gian truyền bệnh viêm não Nhật Bản là loài muỗi Culex tritaeniorhynchus và Culex vishnui, loài muỗi này thường sống ở các ruộng lúa nước và trời chập choạng tối sẽ bay đến nơi có người và súc vật sinh sống để đốt.
Bệnh gặp chủ yếu ở trẻ em dưới 15 tuổi, đặc biệt nhóm có nguy cơ cao nhất là trẻ từ 2 - 6 tuổi (chiếm 75% tổng số trẻ mắc bệnh). Bệnh có thể xảy ra rải rác hay phát triển thành dịch. Tùy theo mức độ và vị trí bị tổn thương tại hệ thần kinh trung ương, triệu chứng lâm sàng sẽ có những biểu hiện tùy theo nơi bị thương tổn như: Viêm não, viêm màng não, viêm sừng trước tủy sống hoặc bệnh cảnh phối hợp: Viêm não - màng não, viêm não - màng não - tủy sống. Bệnh viêm não Nhật Bản thường có tỷ lệ tử vong cao. Người bệnh sống sót thường chậm phát triển trí tuệ và tinh thần, có các biểu hiện rối loạn thần kinh.
Phương thức lây truyền bệnh viêm não Nhật Bản
Các loài chim hoang dã như các loài cò, diệc, cò quăm, liếu điếu... và các loài chim khác sống gần các vùng đầm lầy là những vật chủ quan trọng mang mầm bệnh virut viêm não Nhật Bản. Các nhà khoa học đã xác định được virut viêm não Nhật Bản hiện diện trong nội tạng của các chim hoang dã. Mặc dù mang mầm bệnh trong máu kéo dài nhưng các loài chim này lại không có biểu hiện bệnh lý và nó là nguồn lây nhiễm virut cho các loài muỗi sống trong thiên nhiên. Các loài chim di trú có thể lây truyền mầm bệnh virut từ vùng này qua vùng khác.
Hiện nay người ta đã phát hiện được có 30 loài muỗi khác nhau thuộc 5 họ Culex, Anopheles, Aedes, Mansonia và Amergeres là trung gian truyền bệnh viêm não Nhật Bản do virut. Trong đó có 2 loại Culex tritaeniorhynchus và Culex vishnui là muỗi có khả năng truyền bệnh cao. Nhiều nghiên cứu đã khẳng định muỗi Culex tritaeniorhynchus là trung gian truyền bệnh chính lan truyền virut viêm não Nhật Bản tại Việt Nam. Culex tritaeniorhynchus sinh sản tại mương máng, đồng ruộng ngập nước, về đêm muỗi cái ưa hút máu động vật có xương sống như gia súc, chim và cả người, sau đó bay tản phát đi xa. Muỗi hút máu động vật là lợn, chim trong thời kỳ nhiễm virut ở trong máu, virut phát triển nhanh trong cơ thể muỗi với hiệu giá cao, sau đó có khả năng truyền bệnh suốt đời và có thể truyền virut sang thế hệ sau qua trứng. Muỗi truyền mầm bệnh virut từ chim sang lợn và người khi đốt máu. Muỗi cũng có thể truyền mầm bệnh virut từ lợn sang người.
Triệu chứng lâm sàng, các tác hại và cách xử trí khi bị mắc bệnh
Bệnh khởi đầu với triệu chứng sốt rất cao (thường 39-40oC). Người bệnh còn có các biểu hiện kèm theo như rét run, đau đầu, mệt lả, buồn nôn hoặc nôn. Giai đoạn này kéo dài từ 1 - 6 ngày. Tiếp theo là các biểu hiện rất điển hình như tiếp tục sốt cao kèm co giật, rối loạn ý thức, kích thích, vật vã, ngủ gà, lơ mơ, hôn mê rồi đau đầu, cứng gáy, tay chân quờ quạng, mất nước. Viêm não Nhật Bản là một trong những bệnh để lại di chứng đặc biệt nặng nề, bệnh gây tử vong cao, nếu sống sót thì thần kinh bị tác hại với các di chứng nặng nề như động kinh, giảm trí tuệ, giảm học lực, bị đần độn, bại liệt, thất ngôn... Các di chứng thần kinh này thường chiếm hơn 50% số người bệnh, bệnh nhân bị tàn phế, mất khả năng lao động, để lại gánh nặng rất lớn cho gia đình và xã hội. Xử trí bệnh viêm não Nhật Bản cần tuân thủ nguyên tắc bắt buộc là bệnh nhân phải được điều trị tại bệnh viện. Trong khi chờ đợi để nhập viện, trẻ sốt cao phải được uống thuốc hạ sốt như paracetamol, liều 15mg/kg cân nặng/lần, tối đa uống 4 lần/ngày. Có thể phối hợp chườm khăn mát ở trán và bẹn, chú ý tuyệt đối không chườm nước đá lạnh. Trẻ phải được đưa đến bệnh viện hay cơ sở y tế nơi gần nhất càng sớm càng tốt nếu bị sốt cao quá 12 giờ liên tục hoặc có các dấu hiệu như nôn vọt, cứng gáy, rối loạn ý thức...
Phòng bệnh viêm não Nhật Bản
Phòng bệnh viêm não Nhật Bản tốt nhất là bằng cách tiêm vaccin phòng viêm não Nhật Bản để tạo nên miễn dịch cho trẻ em ở một số nước châu Á, nơi có bệnh lưu hành. Hiện nay chưa có biện pháp điều trị đặc hiệu đối với bệnh viêm não Nhật Bản nên biện pháp phòng bệnh vẫn là giải pháp cần thiết.
Có thể phòng bệnh bằng cách mặc áo quần bảo hộ, dùng hóa chất xua muỗi, lưới bảo vệ nhà cửa, màn chống muỗi, hương xua muỗi và tránh các hoạt động ở ngoài trời vào buổi chiều khi không cần thiết. Việc dùng hóa chất phun tồn lưu nhà cửa, chuồng gia súc ở các vùng nông thôn để phòng chống muỗi Culex, trung gian truyền bệnh viêm não Nhật Bản thường không có hiệu quả do tập tính đốt người và trú ẩn ngoài nhà của loài muỗi này. Ở một số vùng, có thể phòng chống bệnh bằng cách thả cá ăn bọ gậy, biện pháp làm hạn chế nơi muỗi đẻ trứng ở ruộng lúa và hệ thống mương máng. Việc phun hóa chất để diệt muỗi trú ẩn ngoài trời chỉ áp dụng khi xảy ra dịch. Ở những vùng có bệnh viêm não Nhật Bản lưu hành, cần nhốt gia súc và làm chuồng gia súc cách xa nhà ở; đặc biệt là đối với loài lợn.
 

Sốt xuất huyết – Triệu chứng và cách điều trị

Sốt xuất huyết là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do siêu vi trùng tên là Dengue (Đăn-gơ) gây ra. Bệnh lây do muỗi vằn hút máu truyền siêu vi trùng từ người bệnh sang người lành. Muỗi vằn có nhiều khoang trắng ở lưng và chân, thường sống ở trong nhà, đậu trong những chỗ tối như gầm bàn, gầm giường, hốc tủ. Quần áo treo trên vách…, chích hút máu người cả ngày lẫn đêm
Dịch sốt xuất huyết các năm trước đây chủ yếu diễn biến ở trẻ em, nhưng năm nay số ngưới lớn mắc sốt xuất huyết và sốt virus nhập viện lớn hơn gấp nhiều lần các năm trước.
Vì sao sốt xuất huyết nguy hiểm?

Xuất huyết xảy ra quanh năm, đặc biệt vào mùa mưa, có thể bộc phát thành dịch đe doạ sinh mạng trẻ em và sức khỏe cộng đồng.
Bệnh có thể trở nặng bất ngờ, gây tử vong cao.
Bệnh chưa có thuốc trị đặc hiệu và thuốc phòng ngừa.

Theo các bác sĩ đầu ngành, ở người lớn có hai dạng sốt xuất huyết: dạng biểu hiện ra bên ngoài và dạng không biểu hiện ra bên ngoài (thường gặp nhất là xuất huyết tiêu hóa và xuất huyết não).

Sốt xuất huyết tiêu hóa (trong ruột) ở người lớn có biểu hiện ban đầu rất bình thường, chỉ sốt, ít ho, không sổ mũi, không nổi ban. Sau 1 hoặc 2 ngày, bệnh nhân sẽ đi tiêu ra máu nhưng không nhiều và bắt đầu có những hạt lấm tấm trên da, người xanh xao.

Sốt xuất huyết não cũng rất khó nhận biết vì biểu hiện ban đầu không rõ ràng, nhưng rất dễ gây tử vong. Ban đầu, người bệnh sốt, bị nhức đầu, ngay sau đó tay bị tê liệt, không thể cử động. Cuối cùng, người bệnh sẽ bị hôn mê rồi dẫn đến tử vong. “Đối với các trường hợp này, bác sĩ không thể cứu chữa kịp vì tiến triển bệnh quá nhanh”, bác sĩ Hiền nhận định.

Dạng sốt xuất huyết có biểu hiện bên ngoài ở người lớn cũng diễn biến bất thường và triệu chứng ồ ạt hơn ở trẻ em. Thời gian bị sốt cũng kéo dài hơn, khoảng 11-12 ngày thậm chí dài hơn (ở trẻ em chỉ 7 ngày). Sốt xuất huyết ở người lớn nguy hiểm nhất chính là lúc mạch huyết áp bị kẹt (bị tụt), từ đó bắt đầu sinh ra các biến chứng nguy hiểm như xuất huyết tiêu hóa, suy gan, đông máu. Tỷ lệ biến chứng ở sốt xuất huyết người lớn là khoảng 5%.
Làm sao biết trẻ em bị sốt xuất huyết?

Khi thấy những dấu hiệu sau:

Sốt (nóng) cao 39-400 , đột ngột, liên tục trong 3-4 ngày liền.
Xuất huyết (chảy máu) thường ở nhiều dạng:

Xuất huyết dưới da: Làm lộ trên mặt da những chấm nhỏ màu đỏ, đốm đỏ hay vết bầm. Phân biệt với vết muỗi cắn bằng cách căng da chung quanh chấm đỏ, nếu chúng vẫn còn là do xuất huyết, ngược lại nếu biến mất thì đó là vết muỗi cắn.
Chảy máu cam, chảy máu chân răng, nướu răng.
Ói hoặc đi cầu ra máu (nước ói màu nâu, phân lợn cợn như bã cà phê hoặc đỏ tươi).

Đau bụng.
Sốc là dấu hiệu nặng, thường xuất hiện từ ngày thứ 3-6 của bệnh, đặc biệt lúc trẻ đang sốt cao chuyển sang hết sốt và có thể xảy ra kể cả khi không thấy rõ dấu hiệu xuất huyết. Dấu hiệu sốc gồm:

Trẻ mệt, li bì hoặc vật vã
Chân tay lạnh
Tiểu ít
Có thể kèm theo ói hoặc đi cầu ra máu.

Thực tế điều trị bệnh cho thấy, nguyên nhân gây tử vong cao nhất ở bệnh sốt xuất huyết người lớn là tràn dịch màng phổi. Bệnh viện Nhiệt đới TP HCM đã phải cấp cứu nhiều trường hợp sốt xuất huyết bị tràn dịch màng phổi mà nguyên nhân là sự thiếu hiểu biết về nguyên tắc trị bệnh. Khi mới sốt, những bệnh nhân này đã yêu cầu cơ sở y tế tuyến dưới hoặc bác sĩ tư nhân truyền dịch, gây ứ nước trong cơ thể và dẫn đến tràn dịch màng phổi.

Đối với sốt xuất huyết biểu hiện ra bên ngoài thì việc điều trị phải được thực hiện theo đúng phác đồ. Hiện nay đã có phác đồ điều trị sốt xuất huyết cho người lớn. Đây là phác đồ chuẩn được áp dụng cho tất cả các nước có sốt xuất huyết trên toàn thế giới. Theo đó, nếu mới có dấu hiệu sốt xuất huyết, người bệnh chỉ cần đến các cơ sở tuyến đầu để được hướng dẫn cách điều trị tại nhà mà chưa cần đến bệnh viện. Tất cả các cơ sở tuyến đầu đều đã được tập huấn đủ khả năng để xử lý những trường hợp ở cấp độ nhẹ.

Khi điều trị tại nhà (sốt xuất huyết cấp độ 1 và 2), người bệnh chỉ uống paracetamol để hạ sốt, ngoài ra không được dùng bất kỳ loại thuốc nào khác. Nên nghỉ ngơi, uống nhiều nước mát hoặc nước trái cây để giải nhiệt, tránh ăn những thức ăn khó tiêu. Sau 11 hoặc 12 ngày, nếu không có dấu hiệu biến chứng là bệnh đã khỏi. Để đề phòng xuất huyết não và xuất huyết tiêu hóa, khi có dấu hiệu nghi ngờ, nên đến cơ sở y tế ngay.
Làm gì khi trẻ bị sốt xuất huyết?

Đưa trẻ đi khám bệnh ngay. Nếu trường hợp nhẹ, có thể chăm sóc tại nhà như sau:

Cho trẻ nghỉ ngơi, tránh chạy nhảy.
Cho ăn nhẹ: cháo, súp, sữa…
Cho uống nhiều nước hơn bình thường, có thể dùng nước chín để nguội, nước Oresol (nước biển khô, cách pha: 1 gói pha vào 1 lít nước, uống 100-150ml nước/kg cân nặng/ngày), nước cam vắt, nước chanh đường…
Hạ sốt với thuốc Paracetamol, lau nước ấm khi sốt cao.
Không cho trẻ uống Aspirin (vì gây thêm xuất huyết), không cắt lễ hay cạo gió, không quấn kín hoặc mặc áo nhiều khi trẻ đang sốt, không cữ ăn, không nhịn uống.

Theo dõi bệnh và mang ngay đến bệnh viện khi thấy có các dấu hiệu trở nặng bất ngờ:

Trẻ mệt nhiều hơn, vẻ âu lo bứt rứt, li bì hoặc vật vã
Tay chân lạnh, đau bụng nhiều hơn
Ói nhiều, da đổi màu bầm, môi tím lại.

Cách phòng bệnh sốt xuất huyết cho trẻ em:


Cho trẻ mặc quần áo dài tay, ngủ mùng cả ban đêm lẫn ban ngày. Không để trẻ nơi thiếu ánh sáng, ẩm thấp để tránh muỗi chích (đốt).
Thoa thuốc chống muỗi lên những vùng da lộ ra ngoài để bảo vệ trẻ mọi lúc, cả ngày lẫn đêm.
Đậy kín lu, vại, hồ, bể chứa nước, không tạo nơi cho muỗi đẻ và hàng tuần nên cọ rửa với bàn chải để trứng muỗi rơi ra; thả cá 7 màu diệt lăng quăng (bọ gậy).
Dọn dẹp nhà cửa ngăn nắp, sạch thoáng, không treo quần áo làm chỗ cho muối trú đậu, loại bỏ các vật chứa nước đọng (gáo dừa, lon, đồ hộp, ly, chén, chai lọ bể, vỏ xe…), thay nước bình bông mỗi ngày, đổ dầu hôi hoặc pha nhiều muối vào chén nước chống kiến chân tủ thức ăn để triệt nơi sinh sản của muỗi. Có thể dùng thuốc diệt muỗi hoặc nhang trừ muỗi.

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2014

Triệu chứng người lớn mắc sởi

TPO - BS Nguyễn Văn Kính - giám đốc Bệnh viện Bệnh nhiệt đới T.Ư cho biết, 90% trong số 313 bệnh nhân sởi đang điều trị tại BV này là người lớn, trong đó bệnh nhân lớn tuổi nhất 44 tuổi. Khác với biến chứng thường gặp ở trẻ em mắc sởi là viêm phổi, ở người lớn biến chứng thường gặp nhất là viêm não.
Điều trị cho bệnh nhân mắc sởi. Ảnh: InternetĐiều trị cho bệnh nhân mắc sởi. Ảnh: Internet
Tất cả những người chưa bị mắc sởi hoặc chưa được gây miễn dịch đầy đủ bằng vắc xin sởi đều có thể nhiễm sởi. Ở người lớn, dấu hiệu bệnh cảnh rất mờ nhạt thường dễ nhầm lẫn với các sốt phát ban khác.
Đặc biệt, người lớn mắc bệnh sởi, ít gặp các biến chứng về đường hô hấp, tuy nhiên điều nguy hại chính là những di chứng của bệnh sởi ở người lớn thường không ai có thể biết để ngăn chặn.
Các chuyên gia y tế cho biết, do quan niệm bệnh sởi chỉ có ở trẻ em làm người lớn thường chủ quan khi mắc bệnh, không có những biện pháp cách ly, không có chế độ chăm sóc, dinh dưỡng, vệ sinh tốt khi mắc bệnh nên dễ làm lây lan trong cộng đồng và có thể dẫn đến những biến chứng nặng.
Người lớn mắc sởi có thể sẽ có một số triệu chứng sau:
1. Sốt
2. Ho khan
3. Chảy nước mũi
4. Mắt đỏ
5. Không chịu được ánh sáng
6. Những nốt nhỏ xíu với trung tâm mầu xanh trắng xuất hiện bên trong miệng nơi gò má. Những nốt này có tên là đốm Koplik
7. Người mọc ra những đốm đỏ lớn, phẳng, chập vào nhau.
Mặc dù sởi không đến mức nguy hiểm như dịch SARS, cúm A H5N1 hay bệnh dại nhưng những biến chứng nặng nề vẫn có thể xảy ra nếu người dân chủ quan. Tất cả người lớn đều có thể mắc nếu chưa từng mắc hoặc chưa được tiêm vắc xin phòng sởi (tức chưa có được miễn dịch).
Vì thế khi phát hiện bệnh nhân sởi cần cách ly người bệnh; khu vực dân cư có ca dương tính với bệnh sởi qua xét nghiệm huyết thanh học có thể tiến hành tiêm vắc xin đồng loạt cho cả người lớn.
Những ca bệnh nhẹ nên tự cách ly tại gia đình, có chế độ chăm sóc dinh dưỡng và vệ sinh cá nhân tốt.
Nếu thấy triệu chứng bệnh tiến triển tăng nặng cần đến ngay cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời, tránh những biến chứng xấu, thậm chí tử vong.

345 người lớn ở TP.HCM đã mắc bệnh sởi

TTO - Tính từ đầu năm đến ngày 22-4, Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới TP.HCM đã tiếp nhận điều trị nội trú cho 1.031 lượt bệnh nhân bệnh sởi, trong đó có 345 (33%) là bệnh nhân người lớn. Bệnh nhân mắc bệnh sởi lớn tuổi nhất điều trị tại bệnh viện là 66 tuổi.

Dân TP.HCM đưa con em đến tiêm ngừa bệnh sởi tại Viện Pasteur - Ảnh: Hữu Khoa


Theo bác sĩ Võ Minh Quang, phó phòng Kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới, người lớn mắc bệnh sởi thường lành tính, ít có nguy cơ tử vong trừ một số trường hợp như cơ địa suy giảm miễn dịch, người lớn tuổi, phụ nữ có thai, bệnh lý ác tính khác thì bệnh có thể diễn tiến nặng.
Lưu ý một số bệnh nhân có dạng sởi không điển hình, người bệnh chỉ phát ban nhẹ không theo trình tự như trên nên có thể bị bỏ sót và nhầm lẫn với bệnh Rubella hoặc dị ứng.
Không nhớ đã được tiêm ngừa hay chưa
Bệnh sởi lây qua đường hô hấp, rất dễ lây lan. Vi rút lây từ người bệnh sang người lành khi ho, hắt hơi, nói chuyện... Diễn tiến thường gặp nhất là bệnh nhân có dấu hiệu sốt, sổ mũi, nhức đầu, viêm họng, viêm kết mạc trong vài ngày. Đây là giai đoạn bệnh lây nhiều nhất.
Sau đó là phát ban bắt đầu từ cổ lan dần xuống thân mình rồi đến chân, thường không gây ngứa và có thể sốt cao liên tục.
Sau giai đoạn phát ban, người bệnh sẽ chuyển sang giai đoạn hồi phục, khi đó bệnh nhân giảm sốt, các dấu phát ban mờ dần theo thứ tự xuất hiện và khỏi bệnh.
Một số trường hợp mắc bệnh sởi vào bệnh viện khám khi mới bị sổ mũi, nhức đầu chưa có phát ban, có thể bị chẩn đoán nhầm với các bệnh khác như nhiễm siêu vi, sốt xuất huyết, ...
Biến chứng hay gặp nhất ở bệnh sởi là viêm phổi do bội nhiễm vi khuẩn. Đối với các trường hợp này cần phải điều trị kháng sinh, nếu nặng hơn có thể phải hỗ trợ hô hấp bằng thở oxy hoặc thở máy.
Các công tác giám sát bệnh sởi và sốt phát ban tại bệnh viện cho thấy phần lớn bệnh nhân người lớn mắc sởi đều không biết mình đã được tiêm ngừa sởi hay chưa.
Tự cách ly để hạn chế lây bệnh 
Bác sĩ Minh Quang nhấn mạnh, biện pháp phòng ngừa bệnh sởi tốt nhất là tiêm ngừa. Khi có những triệu chứng nghi ngờ bệnh sởi việc quan trọng là tự cách ly trước để hạn chế lây bệnh cho người xung quanh như đeo khẩu trang, rửa tay thường xuyên, không đến chỗ đông người.
Người bệnh cần đến các phòng khám tại cơ sở y tế gần nhất như bệnh viện quận/huyện, bệnh viện có khoa truyền nhiễm để được chẩn đoán xác định. Nếu bệnh nhẹ, bác sĩ có thể kê đơn thuốc điều trị triệu chứng, hướng dẫn tự cách ly và theo dõi bệnh tại nhà, tái khám.
Trường hợp có biểu hiện nặng hoặc đối tượng đặc biệt bác sĩ sẽ cho nhập viện cách ly và điều trị.
Bệnh sởi có thể điều trị bằng phương pháp y dược cổ truyền
Trao đổi với Tuổi Trẻ về việc điều trị bệnh sởi bằng phương pháp y dược cổ truyền, bác sĩ Trần Văn Năm - phó giám đốc Viện Y Dược học dân tộc TP.HCM - cho biết về nguyên tắc khi bị bệnh sởi, trẻ cần được cách ly, chăm sóc kỹ bằng cách cho uống đủ nước, ăn đủ chất dinh dưỡng, nhỏ mắt bằng dung dịch nước muối sinh lý, chăm sóc da, răng-mũi-miệng.
Trong điều trị, bác sĩ sẽ cho trẻ sử dụng các dược liệu có ba nhóm đặc tính:
- Một là kháng sinh thực vật, hạ sốt, lợi tiểu như kim ngân hoa, cây sài đất, cỏ mực, cỏ mần trầu, gừng tươi, kinh giới, rễ tranh…
- Hai là tăng sức đề kháng bằng lá hoặc rễ cây đinh lăng lá nhỏ, bố chính sâm, sâm đại hành, mạch môn, thiên môn…
- Ba là chống dị ứng: tía tô, rau má, bạc hà…
Ngoài ra, dùng các nhóm thuốc để tăng cường thải độc qua đường hô hấp, đường mồ hôi, đường tiểu. Cũng có thể sử dụng một hoặc hai loại dược liệu trong mỗi nhóm nói trên trộn chung với nhau, mỗi loại dùng từ 15-20g tươi (10-12g nếu dạng khô) nấu nước hoặc sắc uống trong ngày.
Hiện trên thị trường có một số chế phẩm được một số công ty, cơ sở y tế bào chế sẵn tiện dùng như trà tiêu độc Kim ngân hoa, chai Toa căn bản, Nhân sâm bại độc, viên thuốc Kim ngân vạn ứng… Nếu sử dụng các thuốc trên kịp thời sẽ rút ngắn được thời gian phục hồi bệnh và hạn chế được các biến chứng nặng. 
Theo bác sĩ Trần Văn Năm, trừ trường hợp trẻ bị sởi có biến chứng nặng, phụ huynh có thể đưa trẻ bị bệnh sởi đến Viện Y Dược học dân tộc TP điều trị sởi bằng phương pháp y dược cổ truyền.
Tuy nhiên, phụ huynh cần lưu ý không nên nghe những người không có chuyên môn hướng dẫn uống thuốc này, thuốc kia để điều trị sởi cho trẻ vì việc này rất nguy hiểm.
Thực tế, một loại thuốc không thể điều trị cho tất cả các loại bệnh và điều trị bệnh không chỉ có một vị thuốc này hay một vị thuốc khác mà là cả một nhóm dược liệu được phổi hợp ra bài thuốc cho trẻ uống.
Chưa kể không đi khám bệnh mà cứ uống cây này, lá khác theo kiểu truyền khâu lại càng không hay.
Do vậy, cách phòng bệnh sởi duy nhất vẫn là tiêm ngừa văcxin sởi, giữ vệ sinh cơ thể và môi trường, ăn uống đủ chất, vitamin nhóm C, B, A, D…

Những thông tin bất ngờ về dịch sởi ở người lớn

Sởi không chỉ xảy ra với trẻ nhỏ mà ngay cả người lớn cũng có thể mắc. Bệnh nhân lớn tuổi nhất bị mắc sởi được ghi nhận ở Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương năm nay 47 tuổi.
47 tuổi vẫn mắc sởi
Ông Nguyễn Văn Kính, Giám đốc BV Bệnh nhiệt đới Trung ương cho biết trong số bệnh nhân nhập viện điều trị vì sởi thì có khoảng 85-90% bệnh nhân là người lớn. Người lớn tuổi nhất mắc sởi được ghi nhận năm nay 47 tuổi.

Theo lý giải của ông Kính, người bệnh này sinh vào khoảng năm 1967-1968, lúc này chưa có chương trình tiêm chủng mở rộng nên chưa được tiêm vắc xin, nếu chưa mắc sởi thì sẽ không có miễn dịch.”Bất kể ai chưa có miễn dịch đều có thể mắc sởi, kể cả người lớn”, ông Kính nói.
TP.HCM, sởi, người lớn, tăng đột biến
Bệnh nhân sởi điều trị tại BV Bệnh Nhiệt đới TƯ

Anh N.C.C. (năm nay 34 tuổi) cho biết anh không nhớ mình đã được tiêm chủng hay chưa, cũng không nhớ đã từng mắc sởi hay chưa. Tuy nhiên, anh chủ quan vì nghĩ sởi gây bệnh ở trẻ nhỏ.

Khi dịch sởi đang bùng phát mạnh ở Hà Nội thì anh có dấu hiệu sốt cao không dứt, ho, vào bệnh viện khám sau 4 ngày có triệu chứng lâm sàng, anh được kết luận mắc sởi và nằm điều trị ở BV 6 ngày. Sau khi anh mắc sởi thì con gái 7 tháng của anh cũng lây nhiễm theo,

Bác sỹ Nguyễn Trung Cấp, Phó trưởng khoa Hồi sức cấp cứu của BV cho biết từ đầu vụ dịch đến nay chưa ghi nhận trường hợp nào diễn biến nặng, có một vài ca phải thở oxy nhưng sau đó tiến triển tốt và đều đã ra viện, hiện chỉ còn lại những bệnh nhân sởi thông thường, không có biến chứng nặng. Hiện số ca mắc sởi là người lớn đang chững lại. Số bệnh nhân này đều mắc sởi cổ điển.

Ông Nguyễn Văn Kính cho biết đối với người lớn, nếu mắc sởi thì biến chứng thường gặp nhất là viêm não gây rối loạn trung khu tuần hoàn đường hô hấp làm bệnh nhân có thể tử vong (trong khi với trẻ nhỏ biến chứng thường gặp nhất là viêm phổi). Hiện BV chưa ghi nhận ca tử vong nào liên quan đến sởi người lớn.

Theo PGS.TS Bùi Vũ Huy, trưởng khoa Nhi của bệnh viện, tuy không chủ quan với bệnh (bất kỳ với bệnh nào, không chỉ riêng bệnh sởi) nhưng với trẻ em tầm tuổi 8-9 trở lên nếu mắc sởi thì nguy cơ biến chứng không cao như trẻ nhỏ bởi lúc này sức đề kháng của trẻ tốt hơn, hệ miễn dịch tự nhiên cũng bền vững hơn.

Trong nhóm người lớn mắc sởi, các bác sỹ đặc biệt lưu ý đối tượng là phụ nữ có thai. Ông Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho biết nếu mắc sởi khi đang có thai thì nguy cơ biến chứng, ảnh hưởng đến thai nhi rất cao. Virus sởi có thể gây sảy thai, sinh non hoặc sinh con nhẹ cân, thậm chí dị tật.

Hiện nay, số bệnh nhân mắc sởi là trẻ em vào nhập viện tại BV Bệnh Nhiệt đới TƯ có xu hướng tăng lên do nhiều gia đình lo ngại tình trạng quá đông gây nhiễm chéo tại BV Nhi Trung ương.
Quá tải sởi người lớn
Ngày 23/4, Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới TP.HCM cho biết đơn vị này đang phải gồng mình “gánh” sởi.
TP.HCM, sởi, người lớn, tăng đột biến
Tại Bệnh viện Nhiệt Đới TPHCM, bệnh nhân mắc sởi là người lớn phải nhập viện ngày càng nhiều. ( Ảnh: Thanh Huyền).
Tại Khoa Nội A của bệnh viện đã bố trí riêng một khu với khoảng 40 giường bệnh chuyên điều trị cho bệnh nhân sởi nhưng hiện đã quá tải, phải san bớt bệnh sang nằm cả ở Khoa Nhiễm C.
Riêng từ 7h sáng tới 15h ngày 23/4, Khoa Khám bệnh của Bệnh viện Nhiệt Đới đã khám cho 35 trường hợp bị sởi, trong đó 17 ca là người lớn, 6 ca phải nhập viện điều trị (3 người lớn, 3 trẻ em).
Như vậy, tỷ lệ mắc bệnh sởi ở người lớn và trẻ em tại bệnh viện này gần như ở mức 50/50.
Theo thống kê, hiện tại Bệnh viện Nhiệt Đới đang điều trị cho 92 trường hợp sởi nội trú. Bệnh nhân ở TPHCM là 59 ca, còn lại là bệnh nhân từ tỉnh chuyển lên. Số người lớn mắc sởi đang nằm viện lên tới 33 ca.
Từ đầu tháng 4 đến nay Bệnh viện Bệnh nhiệt đới đã điều trị nội trú cho 341 ca sởi (129 trường hợp là người lớn).
Có thể nhận thấy diễn biến của dịch sởi đang phức tạp lên từng ngày.
Vào tháng 2, Khoa Nội A của bệnh viện này chỉ có 25 bệnh nhân sởi nội trú, đã được nhận định là cao gấp 3 lần ngày thường. Nay, số bệnh nhân nằm kín 40 giường dành riêng cho sởi và còn hàng chục ca tràn cả sang Khoa Nhiễm C.

Để tránh lây chéo trong bệnh viện, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới cũng đã thực hiện cách ly bệnh nhân sởi nằm ở khu vực riêng và theo từng phòng tùy mức độ nặng nhẹ để tiến hành điều trị.

Nhiều người lớn nhập viện điều trị bệnh sởi

(TNO) Nhiều người lớn đã nhập viện điều trị bệnh sởi, trong đó có người già và phụ nữ mang thai. Các bác sĩ cảnh báo sởi không chỉ là bệnh ở trẻ em mà cả người lớn cũng cần đề phòng, đặc biệt là phụ huynh có con nhỏ để tránh lây lan cho trẻ.


Một bệnh nhân bị sởi đang nằm viện điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới (TP.HCM) - Ảnh: Nguyên Mi
Theo số liệu ghi nhận của Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới (TP.HCM), hôm nay (23.4), Khoa Nhiễm A của bệnh viện có 91 ca mắc sởi đang điều trị nội trú thì có đến 40 bệnh nhân là người lớn (trên 15 tuổi). Tính từ đầu năm đến nay, trong 1.031 ca nhập viện điều trị bệnh sởi tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới, có đến 345 bệnh nhân là người lớn (trên 15 tuổi), chiếm 33%.
Bác sĩ Nguyễn Văn Vĩnh Châu, Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới, cho biết có một số trường hợp mắc sởi ở người già và phụ nữ có thai. Bệnh nhân sởi lớn tuổi nhất điều trị tại bệnh viện là 66 tuổi.
Các trường hợp người lớn vào viện điều trị sởi đa phần đều không nhớ đã từng tiêm vắc xin sởi chưa, cũng như nhiều trường hợp cho biết “hình như chưa bị sởi lần nào”.
Theo bác sĩ Châu đánh giá, người lớn nhiễm sởi thường ít biến chứng, bệnh nhẹ hơn trẻ em. Chỉ có khoảng 17% trường hợp bệnh sởi ở người lớn có biến chứng viêm phổi, trong khi trẻ em càng nhỏ thì có tỷ lệ biến chứng viêm phổi càng cao (trung bình đợt này là khoảng 50%).
Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm, Bệnh viện Nhi đồng 1 (TP.HCM), khuyến cáo ở trẻ nhỏ thì biến chứng sởi thường là viêm phổi, còn với trẻ lớn và người lớn thì biến chứng sởi thường là viêm cơ tim, viêm não.
Bệnh viện Nhi đồng 2 (TP.HCM), trong tuần qua cũng ghi nhận một trường hợp sản phụ mắc bệnh sởi. Sản phụ là bác sĩ làm việc tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương. Khi mang thai, chị có tiếp xúc với bệnh nhân nhiễm sởi. Ngày 1.4, chị sinh em bé thì đến ngày 7.4 chị xuất hiện phát ban bệnh sởi. Sau đó, ngày 12.4, em bé con chị cũng có dấu hiệu bệnh sởi. Hiện các bác sĩ Bệnh viện Nhi đồng 2 đang theo dõi điều trị cho em bé sơ sinh nghi nhiễm sởi do mẹ truyền sang con trong thời gian ủ bệnh.
Phó giáo sư - tiến sĩ - bác sĩ Phan Trọng Lân, Viện trưởng Viện Pasteur, khuyến cáo người lớn, đặc biệt là những ai đã có con nhỏ cần đề phòng bệnh sởi cho chính mình để tránh lây sang trẻ nhỏ.
Theo bác sĩ Lân, phụ huynh (cha mẹ, ông bà, người giữ trẻ) cần tránh tiếp xúc với nguồn bệnh, không tiếp xúc, sờ, nựng trẻ, người bị bệnh sởi rồi về ôm, nựng con trẻ nhà mình; tránh đến chỗ tụ tập đông người; rửa tay, vệ sinh sạch sẽ khi nựng, tiếp xúc với con; để nhà cửa thoáng mát, sạch sẽ.
Sởi là bệnh nếu ai đã từng mắc thì cơ thể sẽ có miễn dịch với vi rút sởi, hầu như mắc một lần sẽ không mắc lại lần nữa. Nếu tiếp xúc với nguồn bệnh, mặc dù phụ huynh không bị bệnh do đã có miễn dịch nhưng vẫn có thể là trung gian truyền vi rút sởi cho trẻ, người chưa được tiêm phòng, chưa có miễn dịch với vi rút sởi.